Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là gánh nặng lớn đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ NKBV dao động từ 3,5% đến 12% tại các nước phát triển và từ 5,7% đến 19,1% tại các nước đang phát triển. NKBV làm tăng biến chứng, tử vong, kéo dài thời gian nằm viện và thúc đẩy đề kháng kháng sinh.
Trong số các loại nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKTN) là một trong những nhóm phổ biến nhất, trong đó 70–80% có liên quan đến đặt thông tiểu lưu. Các nghiên cứu tại Việt Nam ghi nhận tỷ lệ NKTN bệnh viện từ 15,2% đến 36,7%.
Bệnh viện Bình Dân – cơ sở chuyên khoa ngoại và niệu khoa tuyến cuối – thực hiện số lượng lớn phẫu thuật và can thiệp niệu khoa mỗi năm. Người bệnh tại đây có nguy cơ cao phải đặt thông tiểu lưu, dẫn đến nguy cơ NKTN gia tăng nếu không có biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn hiệu quả.
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến NKTN trên người bệnh đặt thông tiểu lưu, góp phần hoàn thiện chiến lược dự phòng NKTN tại bệnh viện.
1. Tổng quan về nhiễm khuẩn tiết niệu liên quan thông tiểu
1.1. Định nghĩa
NKTN là tình trạng vi sinh vật xâm nhập vào hệ tiết niệu và có khả năng gây bệnh, có hoặc không có triệu chứng.
NKTN liên quan đặt thông tiểu là nhiễm khuẩn xuất hiện sau khi người bệnh được đặt thông tiểu lưu.
1.2. Chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng
Thể A (NKTN-A)
Cấy nước tiểu ≤ 2 loại vi sinh vật; ít nhất 1 loại ≥ 10⁵ CFU/ml.
Có ít nhất một triệu chứng (sốt, đau trên xương mu).
Nếu không mang thông tiểu: có thể kèm mót tiểu, tiểu buốt, tiểu dắt.
Thể B (NKTN-B)
Có ≥ 2 triệu chứng gợi ý nhiễm khuẩn đường niệu.
Kèm theo mủ niệu, nhuộm Gram dương tính hoặc ≥ 2 mẫu cấy nước tiểu cùng vi sinh vật.
1.3. Các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố được ghi nhận bao gồm:
Thời gian mang thông tiểu kéo dài.
Tuổi, giới tính.
Bệnh lý nền: đái tháo đường, suy thận, bệnh phổi mạn tính.
Thời gian phẫu thuật, điểm ASA, sử dụng corticoid.
Chất lượng chăm sóc ống thông và hệ thống dẫn lưu.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2019 tại tất cả khoa lâm sàng của Bệnh viện Bình Dân.
Thiết kế: nghiên cứu cắt dọc.
Đối tượng: tất cả người bệnh được đặt thông tiểu lưu ≥ 2 ngày, không có nhiễm khuẩn lúc nhập viện.
Trong tổng số 968 người bệnh có chỉ định đặt thông tiểu, sau khi loại các trường hợp không phù hợp, có 97 người bệnh được đưa vào nghiên cứu.
3. Đặc điểm người bệnh trong nghiên cứu
3.1. Nhân khẩu học – bệnh lý nền
Nhóm tuổi > 55 chiếm 44%.
Nam giới chiếm 63%.
79% bệnh nhân nhập viện vì bệnh lý tiết niệu.
Bệnh kèm theo: tăng huyết áp (32%), đái tháo đường (11,3%), các bệnh khác với tỷ lệ thấp hơn.
3.2. Đặc điểm can thiệp
97% người bệnh có phẫu thuật hoặc thủ thuật.
Nội soi niệu chiếm tỷ lệ cao nhất (47,4%), tiếp theo là mổ mở (34%).
Các can thiệp khác chiếm tỷ lệ nhỏ.
4. Tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu liên quan đặt thông tiểu
Trong 97 người bệnh:
Có 9 trường hợp NKTN, chiếm 9,28%.
Sau khi loại 1 trường hợp nhiễm khuẩn có trước khi đặt thông tiểu, tỷ lệ NKTN liên quan thông tiểu thực sự là 8,25%.
Tổng số ngày mang thông tiểu: 559 ngày.
Tỷ lệ CAUTI/1000 ngày-thông tiểu: 14,3.
Trong 9 trường hợp NKTN:
NKTN-A: 44,4%.
NKTN-B: 55,6%.
Thời gian trung bình trước khi phát hiện nhiễm: 5,2 ngày.
Số ngày lưu thông tiểu trung bình: 7,3 ngày.
5. Vi sinh vật phân lập được
Các vi sinh vật gây NKTN tại bệnh viện gồm:
Enterobacter cloacae: 40%
Klebsiella pneumoniae: 40%
Enterococcus spp.: 20%
Những tác nhân này đều là vi khuẩn có xu hướng đề kháng kháng sinh cao trong bệnh viện, gây khó khăn trong điều trị.
6. Yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn tiết niệu
Phân tích cho thấy hai yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê:
6.1. Thời gian mang thông tiểu
Mang thông tiểu ≥ 7 ngày làm tăng nguy cơ NKTN gấp 4,51 lần so với nhóm < 7 ngày.
6.2. Thời gian nằm viện
Nằm viện ≥ 7 ngày làm tăng nguy cơ NKTN hơn nhóm nằm viện ngắn ngày, với PR = 1,63.
Hai yếu tố này chứng minh rằng càng lưu thông tiểu lâu, nguy cơ nhiễm khuẩn càng cao, và việc rút thông tiểu sớm là biện pháp trọng tâm để giảm CAUTI.
7. Tác động của nhiễm khuẩn tiết niệu
So sánh giữa nhóm có NKTN và nhóm không nhiễm:
Thời gian nằm viện trung bình
Có NKTN: 16,4 ngày
Không NKTN: 9,5 ngày
Số ngày dùng kháng sinh
Có NKTN: 13,5 ngày
Không NKTN: 4,7 ngày
Chi phí điều trị tăng thêm 2,3 đến 8,7 triệu đồng cho mỗi ca nhiễm, tùy loại phòng và phác đồ điều trị.
8. Tuân thủ chăm sóc thông tiểu của nhân viên y tế
Các chỉ số tuân thủ quan sát được:
Vệ sinh tay: 91,2%.
Hệ thống dẫn lưu bảo đảm kín: 89%.
Không gập, không tắc hệ thống dẫn lưu: 83%.
Đảm bảo túi nước tiểu thấp hơn bàng quang: 74,1%.
Thu gom chất thải đúng quy định: 92,2%.
Mặc dù tỷ lệ tuân thủ tương đối cao, vẫn cần tăng cường giám sát để đảm bảo sự thống nhất và chất lượng trong chăm sóc thông tiểu.
9. Kết luận
Tỷ lệ NKTN trên người bệnh đặt thông tiểu tại Bệnh viện Bình Dân là 9,28%, trong đó NKTN thực sự liên quan thông tiểu là 8,25%.
Tỷ lệ CAUTI/1000 ngày thông tiểu là 14,3, cao hơn nhiều so với các chuẩn quốc tế.
Thời gian mang thông tiểu và thời gian nằm viện kéo dài là yếu tố nguy cơ chính.
NKTN làm tăng thời gian nằm viện, tăng sử dụng kháng sinh và chi phí điều trị.
Vi sinh vật phân lập chủ yếu là Enterobacter cloacae, Klebsiella pneumoniae và Enterococcus spp.
10. Khuyến nghị
Chỉ đặt thông tiểu khi thực sự cần thiết, tái đánh giá hằng ngày để rút sớm nhất có thể.
Tuân thủ gói can thiệp phòng ngừa CAUTI, bao gồm vệ sinh tay, kỹ thuật vô khuẩn khi đặt thông, hệ thống dẫn lưu kín và chăm sóc ống thông đúng quy trình.
Tăng cường giám sát CAUTI theo ngày-thông tiểu, phân tích nguyên nhân và phản hồi cho khoa lâm sàng.
Đào tạo nhân viên y tế định kỳ về kỹ thuật đặt và chăm sóc thông tiểu an toàn.
Phối hợp chặt chẽ giữa Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, khoa lâm sàng và vi sinh để quản lý hiệu quả vi khuẩn gây bệnh và sử dụng kháng sinh hợp lý.
- Đăng nhập để gửi ý kiến